TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC

SCIC và sự hình thành Quỹ đầu tư quốc gia của Việt Nam: Từ quản lý vốn sang kiến tạo giá trị

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Nguyễn Chí Thành

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước

Ngày 6-1-2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó có nội dung rất mới về việc đề ra mục tiêu “tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hình thành Quỹ đầu tư quốc gia”(1). Điều này khẳng định sự quan tâm, ghi nhận và kỳ vọng chiến lược của Đảng, Nhà nước đối với SCIC, tạo cơ sở chính trị và không gian thể chế cần thiết để SCIC lớn mạnh và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 79-NQ/TW tạo sự chuyển đổi căn bản về tư duy đối với SCIC với việc lần đầu tiên Trung ương đề ra nội dung thành lập Quỹ đầu tư quốc gia, qua đó định vị rõ tầm vóc và vị thế của SCIC trong thời gian tới với vai trò là định chế đầu tư chiến lược ở tầm quốc gia. Nghị quyết cũng khẳng định rõ hơn nội dung đầu tư, kinh doanh vốn theo nguyên tắc thị trường, với việc bổ sung các mục tiêu cho SCIC về phát triển doanh nghiệp có hiệu quả cao và đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận cao bên cạnh các mục tiêu chiến lược khác.

SCIC: Quá trình thành lập và phát triển

Để đáp ứng yêu cầu khách quan của quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Hội nghị Trung ương 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX với nguyên tắc “Phân biệt rõ chức năng của cơ quan đại diện quyền chủ sở hữu của nhà nước với chức năng điều hành sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đã được thành lập.

Trong thời gian hơn 19 năm qua, SCIC đã từng bước khẳng định tính đúng đắn của việc thành lập một tổ chức kinh tế đặc biệt, đóng góp cơ bản vào quá trình tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi phương thức quản lý vốn nhà nước từ mệnh lệnh hành chính sang đầu tư kinh doanh vốn và dần phát huy vai trò là công cụ đầu tư của Chính phủ, duy trì kết quả kinh doanh tích cực.

Các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của SCIC tăng trưởng liên tục. Lũy kế từ khi thành lập và đi vào hoạt động năm 2006 đến nay tổng lợi nhuận trước thuế của SCIC đạt 114.546 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước với tổng số tiền 103.465 tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân 13,3%/năm; tổng tài sản tăng 13 lần; vốn chủ sở hữu tăng 17 lần; tổng doanh thu tăng 93 lần; lợi nhuận sau thuế tăng 94 lần; nộp NSNN tăng 51 lần.

Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa_Ảnh: tư liệu

Riêng trong nhiệm kỳ 5 năm vừa qua, SCIC đã thực hiện xuất sắc kế hoạch 5 năm được Thủ tướng Chính phủ giao, hoàn thành và hoàn thành vượt mức 5/6 chỉ tiêu Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, hoàn thành 9/10 chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ Tổng công ty nhiệm kỳ 2021 - 2025 đã đề ra. Trong đó chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước ước đạt khoảng 35.000 tỷ đồng, bằng 129% kế hoạch 5 năm. ROA và ROE bình quân đạt trên 13%/năm. trong đó hoàn thành đạt và vượt 5/6 chỉ tiêu, gồm: Doanh thu, lợi nhuận, ROE, ROA, nộp ngân sách nhà nước (trong đó, đến nay SCIC đã nộp ngân sách gần 35 nghìn tỷ đồng, đạt 129% kế hoạch cả 5 năm). Năm 2024, SCIC nằm trong TOP 20 doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước lớn nhất của cả nước với số tiền 10.865 tỷ đồng.

Về thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và tái cơ cấu doanh nghiệp: Từ khi thành lập đến nay, SCIC đã tiếp nhận 1.086 doanh nghiệp với tổng giá trị vốn nhà nước (theo vốn điều lệ) 34.329 tỷ đồng; trong đó có 27 tổng công ty và tập đoàn. Ngay sau khi tiếp nhận vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, đặc biệt đối với những tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn có vốn chi phối, tình hình tài chính phức tạp, với vai trò cổ đông nhà nước, SCIC đã triển khai các biện pháp quản trị doanh nghiệp tiên tiến, đồng thời chủ động xây dựng và thực hiện phương án tái cơ cấu, đầu tư thêm vốn vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thúc đẩy việc chuyển giao kinh nghiệm quản lý, công nghệ… qua đó làm gia tăng giá trị phần vốn tại doanh nghiệp. SCIC cũng tập trung triển khai công tác quản trị, tái cơ cấu tại các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn, như tái cơ cấu Tổng công ty Hàng không Việt Nam; tích cực báo cáo các cơ quan có thẩm quyền, triển khai và thực hiện phương án xử lý tại các dự án Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo, trong đó đã đạt được một số kết quả và bước tiến rõ nét tại các Dự án như Cảng Vũng Áng Việt Nam - Lào hay các dự án của Tổng công ty Thép Việt Nam.

Về công tác sắp xếp, cổ phần hóa, SCIC đã tiếp nhận 33 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Đến nay, SCIC đã hoàn thành sắp xếp, cổ phần hóa tại 30 doanh nghiệp, đạt kết quả tốt, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật. Về thoái vốn, SCIC đã thực hiện bán vốn tại 1.070 doanh nghiệp, thu về gần 56.000 tỷ đồng, đạt 4,1 lần so với giá vốn. Như vậy trong gần 6.000 doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, thoái vốn vừa qua, riêng SCIC thực hiện tại hơn 1.000 doanh nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách; thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, thị trường tài chính chứng khoán và nền kinh tế nói chung.

Về thực hiện đầu tư vốn nhà nước, SCIC đã giải ngân đầu tư với tổng số tiền 58.400 tỷ đồng (hơn 2,3 tỷ USD). Với nguồn vốn tích tụ trong quá trình kinh doanh, SCIC đã thực hiện đầu tư, kinh doanh vốn với tổng vốn đã đầu tư 55.086 tỷ đồng (hơn 2 tỷ USD).  Một số khoản đầu tư có ý nghĩa lớn như: tham gia đầu tư vào ngành năng lượng theo thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN); đầu tư trở thành cổ đông chiến lược của Ngân hàng Quân đội (MB) và Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) đạt hiệu quả cao so với nguồn vốn đầu tư bỏ ra.

Đặc biệt, SCIC trong nhiệm kỳ vừa qua, đã đầu tư 14.665 tỷ đồng cho Vietnam Airlines, qua đó hỗ trợ Vietnam Airlines cải thiện thanh khoản và duy trì hoạt động trong giai đoạn bị tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19; giúp bổ sung nguồn vốn cho Vietnam Airlines, thoát khỏi tình trạng âm vốn chủ sở hữu, bảo đảm dòng tiền ổn định trong dài hạn, có thêm nguồn lực để thanh toán nợ và triển khai kế hoạch mở rộng đầu tư, kinh doanh trong thời gian tới.

Trong lĩnh vực hợp tác, đầu tư quốc tế, từ khi thành lập đến nay, SCIC đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tiêu biểu là hoạt động xúc tiến, hợp tác đầu tư với các nước Vùng Vịnh đã được SCIC triển khai thực hiện từ năm 2008 trên cơ sở SCIC và Cơ quan Đầu tư quốc gia Oman (OIA) thành lập Công ty cổ phần Đầu tư Việt Nam Oman (VOI). Trong 18 năm hoạt động, VOI đã thực hiện hơn 20 khoản đầu tư vào nhiều lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng, năng lượng, công nghiệp, tài chính, giáo dục, y tế và bất động sản. Quỹ giải ngân hơn 510 triệu USD, vượt xa mức cam kết ban đầu là 100 triệu USD. Tiếp nối thành công của mô hình hợp tác đầu tư, OIA và SCIC đã thống nhất nâng quy mô hợp tác đầu tư tại Việt Nam. Một dấu mốc quan trọng là SCIC đã ký Biên bản ghi nhớ về hợp tác đầu tư với Cơ quan Đầu tư quốc gia Oman (OIA) để thành lập Quỹ Đầu tư tăng trưởng kỷ nguyên mới Việt Nam (Vietnam New Era growth Fund) hướng tới mục tiêu đầu tư tăng trưởng dài hạn, lợi ích bền vững với định hướng ưu tiên đầu tư vào các ngành: Hạ tầng số và viễn thông, công nghệ; khoáng sản và luyện kim; tài chính và cổ phần hóa; nông nghiệp.

Bên cạnh đó, SCIC cũng tích cực thúc đẩy các hoạt động xúc tiến hợp tác đầu tư với các quỹ đầu tư quốc gia cũng như các tổ chức tài chính lớn khác tại Vùng Vịnh như Quỹ Đầu tư quốc gia Abu Dhabi (ADQ) của UAE và Quỹ Đầu tư quốc gia Qatar (QIA) để phối hợp nghiên cứu các cơ hội, dự án đầu tư tiềm năng tại Việt Nam, thành lập Tổ công tác chung để cùng nghiên cứu, theo dõi, trao đổi, kết nối và chia sẻ thông tin các cơ hội đầu tư.

Hội nghị Người đại diện vốn tại doanh nghiệp năm 2025, ngày 10-10-2025_Ảnh: scic.vn

Nhìn lại chặng đường 19 năm hoạt động, SCIC đã xây dựng được một nền tảng tài chính vững chắc. Tính đến nay, vốn chủ sở hữu của SCIC đạt gần 64.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt khoảng 70.000 tỷ đồng. Nếu tính theo giá trị thị trường, danh mục của SCIC hiện đạt hơn 200.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 8 tỷ USD. Tổng kết lại, sau gần hai thập kỷ, số tiền SCIC nộp ngân sách nhà nước đạt trên 114.000 tỷ đồng, gấp gần 3 lần số vốn tiếp nhận ban đầu. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò “đầu tàu” của SCIC trong việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn của quốc gia.

Kết quả hoạt động của SCIC được đánh giá cao qua các văn kiện quan trọng: Kết luận số 78-KL/TW năm 2010 khẳng định chủ trương thành lập SCIC là đúng đắn; Nghị quyết số 12-NQ/TW năm 2017 xác định SCIC là một thiết chế hỗ trợ tái cơ cấu DNNN; Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ năm 2022 giao nhiệm vụ tăng cường vai trò nhà đầu tư của Chính phủ thông qua SCIC và nay là Nghị quyết số 79-NQ/TW đề ra định hướng tái cơ cấu SCIC theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hình thành Quỹ đầu tư quốc gia, nhắm tới việc đưa SCIC trở thành một định chế đầu tư mạnh mẽ, vận hành theo các chuẩn mực quốc tế cao nhất.

Tầm nhìn Quỹ đầu tư quốc gia

Về kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong vài thập niên qua, các quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Fund) đã phát triển mạnh mẽ và trở thành những nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Về tài sản, tổng tài sản do SWF quản lý toàn cầu đến nay đã vượt 12 nghìn tỷ USD so với mức 3.000 tỷ một thập niên trước. Vai trò của Quỹ đầu tư quốc gia cũng ngày càng lớn đối với sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới và thể hiện rõ nét nhất trong việc giúp các quốc gia vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế. Quy mô và nguồn lực tài chính của mỗi SWF thường rất lớn, từ hàng trăm đến hàng nghìn tỷ USD. Tính đến năm 2025, 10 quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới quản lý tổng tài sản trên 9,6 nghìn tỷ USD, dẫn đầu là Government Pension Fund Global (Na Uy) với 1.738 tỷ USD, tiếp đến là CIC (Trung Quốc) với 1.332 tỷ USD tài sản. Tại khu vực Đông Nam Á cũng có SWF quy mô lớn điển hình, như Temasek của Singapore với hơn 300 tỷ USD (chiếm hơn 60% GDP), Khazanah của Malaysia với 33 tỷ USD (8,5% GDP).

Về mô hình tổ chức hoạt động của các quỹ tài sản quốc gia được tổ chức theo hai mô hình cơ bản gồm: (1) Mô hình quản lý quỹ và (2) mô hình công ty đầu tư. Với mô hình quản lý quỹ, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của chính phủ (thường là bộ tài chính hoặc ngân hàng trung ương đại diện). Hoạt động đầu tư của quỹ theo mô hình này được giao cho một đơn vị quản lý. Mô hình này thường được sử dụng để quản lý quỹ dự trữ ngoại hối hoặc nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên quốc gia. Với mô hình công ty đầu tư, tài sản nhà nước được chuyển giao cho một công ty đầu tư sở hữu và điều hành. Mô hình này phù hợp với các quỹ có chiến lược đầu tư tập trung và thực hiện vai trò cổ đông chủ động tại doanh nghiệp. Đối với mô hình các quỹ đầu tư quốc gia theo hướng tổ chức/công ty đầu tư của Chính phủ trong khu vực Đông Nam Á hiện đang có các mô hình tương đối khác nhau tại 4 quốc gia là Temasek của Singapore, Khazanah của Malaysia, Vaupak Fund của Thái Lan, INA và Danantara của Indonesia(2), trong đó Temasek được các tổ chức quốc tế đánh giá là mô hình mẫu cho các quỹ đầu tư quốc gia vì sự minh bạch và hiệu suất cao trong hoạt động.

Về lịch sử thành lập và phát triển của Temasek, để tách bạch giữa chức năng chủ sở hữu tài sản, chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý điều hành của doanh nghiệp, Singapore thành lập Temasek vào năm 1974, một công ty do nhà nước sở hữu 100% nhưng hoạt động độc lập, để nắm giữ cổ phần trong các công ty thương mại thay cho chính phủ. Việc này nhằm giúp các bộ ngành tập trung làm chính sách kinh tế thay vì đi quản lý doanh nghiệp hằng ngày. Temasek ban đầu tiếp nhận danh mục 35 công ty chính phủ gồm nhiều lĩnh vực từ hàng không (Singapore Airlines), đóng tàu, ngân hàng (DBS), du lịch (Singapore Tourism Board) đến công nghiệp nặng. Temasek là cánh tay đầu tư của nhà nước, tập trung đầu tư vào các công ty và thông qua các công ty có vốn của mình đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế nhằm gia tăng giá trị vốn cho nhà nước và bảo tồn tài sản cho các thế hệ tương lai.

Temasek có một hội đồng quản trị độc lập (gồm nhiều doanh nhân, chuyên gia quốc tế) và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Chính phủ không can dự trực tiếp vào quyết định đầu tư hằng ngày của Temasek. Để bảo đảm tính độc lập này, Temasek được quy định trong hiến pháp và nằm dưới sự giám sát của tổng thống như một công ty thuộc Danh mục năm (Fifth Schedule), theo đó việc bổ nhiệm nhân sự cao cấp của Temasek cũng như việc rút vốn của Temasek cần có sự chấp thuận của Tổng thống Singapore. Về mô hình tổ chức, quản trị, Temasek được thành lập với mô hình một công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn nhà nước theo Luật Công ty Singapore. Theo đó, Temasek hoạt động theo nguyên tắc thương mại nhằm tạo ra và mang lại giá trị lâu dài bền vững, đóng thuế và chia cổ tức cho cổ đông duy nhất là Bộ Tài chính Singapore.

Singapore coi các doanh nghiệp liên kết chính phủ (GLCs) là công cụ để thực hiện chính sách công nghiệp, tạo việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, Singapore cũng rất coi trọng yếu tố thị trường và quản trị doanh nghiệp hiệu quả. Các GLCs ở Singapore được yêu cầu hoạt động như các doanh nghiệp tư nhân về kỷ luật tài chính và hiệu quả. Temasek và những công ty do Temasek nắm giữ, dù thuộc hoặc có sở hữu nhà nước, vẫn phải cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài. Hội đồng quản trị của Temasek hoạt động hoàn toàn độc lập với mục tiêu lợi nhuận, trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn của công ty, các ban quản lý chuyên nghiệp của Hội đồng chủ động đưa ra các quyết định đầu tư, kinh doanh của Temasek. Chính phủ và Bộ Tài chính chỉ đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ dài hạn chứ không tham gia hoặc có bất cứ ảnh hưởng trực tiếp nào vào các quyết định đầu tư của Temasek.

Tính đến năm 2025, danh mục đầu tư của Temasek đạt khoảng 434 tỷ SGD (tương đương hơn 300 tỷ USD), trải rộng trên nhiều lĩnh vực từ tài chính, viễn thông, hàng không, năng lượng đến công nghệ, bất động sản và các ngành công nghiệp tương lai, với phạm vi toàn cầu. Lợi nhuận dài hạn bình quân của Temasek đạt khoảng 14 - 15%/năm, vượt xa nhiều chuẩn mực đầu tư công. Temasek vận hành dựa trên ba kênh đầu tư chính: sở hữu và phát triển các công ty trụ cột trong nước; đầu tư thông qua các quỹ và nhà quản lý tài sản toàn cầu; và đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp tăng trưởng cao trên phạm vi quốc tế.

Qua nghiên cứu so sánh giữa các mô hình SWF, với điệu kiện cụ thể của Việt Nam, mô hình Temasek của Singapore phù hợp để tham khảo xây dựng và phát triển SCIC trong thời gian tới. Temasek và SCIC có sự tương đồng về vai trò và sứ mệnh, đều được thành lập xuất phát từ nhu cầu tách bạch quản lý nhà nước với quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp và với sứ mệnh chung là quản lý, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước thông qua hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn theo nguyên tắc thị trường. Tài sản chủ yếu khi thành lập của Temasek và SCIC đều từ tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước, không phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên hay dầu khí. Temasek được các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá là điển hình trong các quỹ SWF về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động với hiệu quả mang lại cho cổ đông nhà nước rất cao. Việc hướng tới mô hình Temasek là chọn mô hình tốt nhất (best practice) để nhất quán cho định hướng phát triển của SCIC, rành mạch trong cơ chế hoạt động theo hướng thị trường, không bị lẫn lộn về mục tiêu.

Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045 hình thành một lớp doanh nghiệp Việt Nam có quy mô, năng lực tài chính và công nghệ đủ để cạnh tranh toàn cầu. Trong khi khu vực tư nhân ngày càng năng động, Nhà nước cần một công cụ tài chính để cùng chia sẻ rủi ro và định hướng đầu tư vào các lĩnh vực có tính nền tảng như công nghệ lõi, năng lượng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược. SCIC, trong vai trò Quỹ đầu tư quốc gia, có thể trở thành cầu nối giữa vốn nhà nước và vốn tư nhân, thông qua đồng đầu tư, M&A và đầu tư mạo hiểm, từ đó nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Để chuyển đổi SCIC sang mô hình quỹ đầu tư quốc gia, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã nêu rõ mục tiêu cần tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác cho SCIC để: (i) Đầu tư phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có hiệu quả cao. (ii) Đầu tư vào dự án trong các ngành, lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, có tính chất quan trọng đối với nền kinh tế. (iii) Triển khai đầu tư trực tiếp và hỗ trợ các nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài; thực hiện mua bán, sáp nhập để tiếp cận các công nghệ mới, công nghệ lõi, công nghệ và công nghiệp chiến lược hoặc vì mục tiêu lợi nhuận cao. Với những mục tiêu này, Nghị quyết đã khẳng định rõ hơn về nội dung đầu tư, kinh doanh vốn theo nguyên tắc thị trường đối với SCIC, từ đó tạo cơ sở chính trị cho việc lựa chọn mô hình Temasek làm hướng đi cho việc chuyển đổi của SCIC trong thời gian tới.

Những việc cần làm để triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW

Để thực hiện được mục tiêu trên, các cơ quan, đơn vị và SCIC cần xác định rõ và triển khai những công việc liên quan trong thời gian tới, trong đó có ba nội dung mang tính điều kiện cần ưu tiên giải quyết ngay là:

Về nguồn lực: Cần tiếp tục xem xét tiếp tục giảm mạnh số lượng doanh nghiệp nhà nước hiện nay và thúc đẩy việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại tất cả các loại hình doanh nghiệp từ các bộ, ngành, địa phương về SCIC để tiếp tục quá trình sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trừ các doanh nghiệp trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên đã có các tập đoàn lớn phụ trách; lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lĩnh vực thuần túy công ích. Bên cạnh đó, như Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chỉ ra, cần có chính sách khuyến khích phát triển SCIC thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại cho SCIC để tích tụ, tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác để đầu tư phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có hiệu quả cao

Về thể chế, pháp lý, cần xây dựng hành lang pháp lý với các quy định riêng phù hợp đặc thù hoạt động kinh doanh của SCIC, trước mắt là xây dựng và ban hành nghị định riêng về cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính của SCIC, tiến tới xem xét có nội dung riêng về SCIC trong văn bản luật khi Luật về quản lý đầu tư vốn nhà nước được sửa đổi, bổ sung. Xem xét tiếp tục áp dụng, và bổ sung các cơ chế đặc thù liên quan đến SCIC trong hoạt động, tiếp nhận vốn, đầu tư, bán vốn, cơ chế tài chính, hạch toán…

Về tổ chức và nhân lực, cần xem xét, xác định vị trí tương xứng của Đảng bộ SCIC trong hệ thống chính trị nhằm tiếp tục củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng tại SCIC và các doanh nghiệp thành viên, tương xứng với vị thế, vai trò của SCIC trong nền kinh tế. Về nhân lực, để có thể cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư nhân, cần có cơ chế lương, có cơ chế đãi ngộ tương xứng, bảo đảm thu hút được nhân lực có chất lượng cao, nhất là với SCIC với vai trò là quỹ đầu tư quốc gia hướng tới đầu tư ra nước ngoài còn phải cạnh tranh với các tổ chức đầu tư tài chính trong nước và quốc tế.

Về phía SCIC, những công việc trọng yếu cần đưa vào chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW để triển triển khai ngay trong thời gian tới bao gồm:

Trước hết, SCIC triển khai xây dựng chiến lược phát triển cho giai đoạn mới theo đúng mục tiêu, định hướng của Nghị quyết số 79-NQ/TW, trình và báo cáo các cấp có thẩm quyền theo quy định.

Thứ hai, SCIC cần phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp lý liên quan nhằm tháo gỡ các rào cản, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi để SCIC vận hành theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chuyên nghiệp hơn. Trên cơ sở đó, SCIC tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, quy chế nội bộ của SCIC cho phù hợp.

Thứ ba, SCIC cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiếp nhận vốn từ các bộ, ngành, địa phương để tích tụ vốn với quy mô đủ lớn, qua đó tạo ra năng lực đầu tư các dự án quan trọng, dài hạn mang tầm chiến lược quốc gia.

Thứ tư, SCIC cần sớm xây dựng mô hình tổ chức, bộ máy và nguồn nhân lực theo hướng chuyển đổi sang định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp, mạnh về đầu tư, tài chính, pháp lý, công nghệ, với cơ chế thu hút và đãi ngộ theo hiệu quả, tiệm cận thông lệ thị trường, tương xứng với vai trò và vị thế mới của SCIC.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện quản trị doanh nghiệp và phần vốn tại doanh nghiệp áp dụng triệt để hơn nữa nguyên tắc quản trị của OECD; tái cơ cấu để nâng cao hiệu quả hoạt động qua đó củng cố, phát triển một số doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Thứ sáu, nâng cao năng lực đầu tư theo chuẩn mực quốc tế và quản trị danh mục đầu tư theo phương thức hiện đại trên nền tảng số. SCIC vận hành như nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp, minh bạch, quản trị rủi ro chặt chẽ. Các quyết định đầu tư, thoái vốn, cơ cấu danh mục của SCIC đều phải đặt trọng tâm là hiệu quả, khả năng sinh lời và giá trị gia tăng dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Cuối cùng, SCIC cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đầu tư. Chủ động hợp tác với các tổ chức đầu tư quốc tế và các doanh nghiệp khác để mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo đúng định hướng của Nghị quyết số 79-NQ/TW; đồng thời phối hợp thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao vào Việt Nam, qua đó lan tỏa chuẩn mực quản trị, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn lực quốc tế vào nền kinh tế.

Với 3 nội dung mang tính điều kiện nêu trên được tháo gỡ, các nhiệm vụ đề ra được thực hiện quyết liệt cùng với kinh nghiệm tích lũy được trong gần 20 năm hoạt động, SCIC sẽ phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở định hướng rõ ràng của Nghị quyết số 79-NQ/TW, việc phát triển SCIC thành Quỹ đầu tư quốc gia theo mô hình Temasek sẽ là một cấu phần trọng yếu, có tính đột phá trong chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn tới. Nếu được thiết kế và vận hành đúng hướng, SCIC sẽ trở thành một trong những trụ cột giúp Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa trên vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên đổi mới, công nghệ và năng lực doanh nghiệp quốc gia./.

Theo: SCIC và sự hình thành Quỹ đầu tư quốc gia của Việt Nam: Từ quản lý vốn sang kiến tạo giá trị (Tạp chí Cộng Sản|tapchicongsan.org.vn)


GIỚI THIỆU
Tầm nhìn
Trở thành nhà đầu tư của Chính phủ, tổ chức tài chính nhà nước hàng đầu ở Việt Nam,một trong những đầu mối thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo phân công, phân cấp.
Sứ mệnh
Giá trị theo đuổi
LIÊN KẾT WEBSITE
Image
Image
Image
Image
Image
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), Địa chỉ: Tầng 23 - 24 Tòa nhà Charmvit, Số 117 đường Trần Duy Hưng, Phường Yên Hoà, Thành phố Hà Nội. Giấy phép: 338/GP-BC ngày 10/11/2006. Website: www.scic.vn